VO2 Max là gì? Bảng tra chỉ số tốt theo tuổi và giới tính

📅 Cập nhật · 👤 Đỗ Trọng Linh · 📖 20 phút đọc · Khoa học chạy bộ
Tóm tắt

VO2 Max là gì và bao nhiêu là tốt? Tra chỉ số của bạn theo tuổi và giới tính, đổi thành tích 5km/10km ra VO2 Max, và biết đồng hồ sai bao nhiêu.

VO2 Max là gì? Bảng tra chỉ số tốt theo tuổi và giới tính

VO2 Max là lượng oxy tối đa cơ thể bạn nạp vào và dùng được trong một phút khi gắng sức, tính bằng ml/kg/phút. Con số bao nhiêu là tốt thì phụ thuộc tuổi và giới tính. Theo bảng chuẩn của Cooper Institute, cũng chính là bảng đồng hồ Garmin dùng để xếp hạng bạn, nam 40–49 tuổi đạt mức "tốt" từ 42,4 trở lên, nữ cùng nhóm tuổi từ 36,3 trở lên.

Bảng tra nằm ngay mục dưới. Chưa có đồng hồ thì kéo xuống hai mục nữa: ở đó có bài tự kiểm tra 12 phút và bảng đổi thành tích 5 km, 10 km của bạn ra VO2 Max.

VO2 Max là gì khi nói chuyện với người chạy bộ

Hãy tưởng tượng cơ thể bạn là một chiếc xe. VO2 Max là dung tích xi-lanh của động cơ. Xi-lanh lớn thì mỗi vòng quay đốt được nhiều nhiên liệu hơn, xe có nhiều sức hơn để kéo.

Với người chạy, oxy là nhiên liệu. VO2 Max (tiếng Anh gọi là maximal oxygen uptake, tức mức hấp thụ oxy tối đa) là lượng oxy nhiều nhất mà phổi, tim, mạch máu và cơ bắp của bạn phối hợp đưa vào và đốt được trong một phút. Đơn vị ml/kg/phút nghĩa là: mỗi ki-lô-gam cơ thể tiêu thụ bao nhiêu mi-li-lít oxy trong một phút.

Chỉ số 45 nghĩa là mỗi ki-lô-gam cơ thể bạn dùng tối đa 45 ml oxy mỗi phút. Người ít vận động thường nằm quanh 30 đến 40. Vận động viên chuyên nghiệp hàng đầu thế giới chạm tới 85 đến 90.

VO2 Max là gì?

Để ý cái mẫu số kg trong đơn vị. Nó sẽ quay lại ở phần cách cải thiện, và nó giải thích vì sao hai người có cùng thể lực tim phổi lại ra hai con số khác nhau.

VO2 Max bao nhiêu là tốt? Tra theo tuổi và giới tính

Đây là phần bạn tìm. Lấy con số đồng hồ đang báo, tìm dòng tuổi của bạn, đối chiếu.

Bộ số dưới đây của Cooper Institute (Dallas, Hoa Kỳ), rút từ hơn 80.000 người đã làm bài kiểm tra gắng sức trên máy chạy có đo khí thở trực tiếp. Đây là bảng được in trong sách hướng dẫn của Hội Y học Thể thao Hoa Kỳ, và cũng là bảng Garmin in trong sách hướng dẫn sử dụng đồng hồ của họ kèm dòng ghi nguồn "dữ liệu được in lại với sự cho phép của Cooper Institute".

Nam giới:

Tuổi Mức "tốt" từ Mức "rất tốt" từ
20–29 45,4 51,1
30–39 44,0 48,3
40–49 42,4 46,4
50–59 39,2 43,4
60–69 35,5 39,5
70–79 32,3 36,7

Nữ giới:

Tuổi Mức "tốt" từ Mức "rất tốt" từ
20–29 39,5 43,9
30–39 37,8 42,4
40–49 36,3 39,7
50–59 33,0 36,7
60–69 30,0 33,0
70–79 28,1 30,9

Trên mức "rất tốt" còn một bậc nữa là "xuất sắc", tức nhóm 5% dẫn đầu cùng tuổi cùng giới. Mốc này của nam lần lượt là 55,4 · 54,0 · 52,5 · 48,9 · 45,7 · 42,1 theo thứ tự sáu nhóm tuổi ở trên. Của nữ là 49,6 · 47,4 · 45,3 · 41,1 · 37,8 · 36,7.

Một điều đáng để ý trong bảng: nam 60–69 tuổi chỉ cần 35,5 là đạt mức "tốt", trong khi nam 20–29 tuổi phải đạt 45,4 mới được xếp cùng hạng. Bảng này chấm bạn với người cùng tuổi, không chấm bạn với cả thiên hạ. Người 55 tuổi tập đều hoàn toàn có thể vượt một thanh niên 25 tuổi ngồi văn phòng cả ngày.

Dưới mức nào thì nên để ý

Phía dưới mức "tốt" còn hai bậc là "trung bình" và "kém". Ranh giới giữa chúng là mốc dưới đây. Rơi xuống dưới số này nghĩa là bạn đang nằm trong nhóm 40% thấp nhất của lứa tuổi mình.

Tuổi Ngưỡng nam Ngưỡng nữ
20–29 41,7 36,1
30–39 40,5 34,4
40–49 38,5 33,0
50–59 35,6 30,1
60–69 32,3 27,5
70–79 29,4 25,9

Nằm dưới mốc này chỉ có nghĩa bạn đang ở vạch xuất phát. Trong nhóm người tôi hướng dẫn, những người bắt đầu từ mức thấp nhất lại thường là nhóm thấy thay đổi rõ nhất trong ba tháng đầu, đơn giản vì dư địa còn nhiều.

Trong hơn 15.000 người chạy đồng hành cùng PBRUN, tôi đã gặp những người ngoài 50 tuổi sau sáu tháng tập có kế hoạch đi từ bậc thấp nhất lên bậc "tốt" của chính lứa tuổi mình.

Vì sao cùng một con số mà mỗi trang xếp một hạng khác nhau

Cùng một con số, tra ở trang này ra một hạng, tra ở trang khác ra hạng thấp hơn hẳn. Không phải trang nào bịa. Trên thế giới đang lưu hành hai bộ số chuẩn khác nhau, đo trên hai nhóm dân số khác nhau.

Bộ thứ nhất là Cooper Institute, dùng ở phần trên. Bộ thứ hai đến từ sổ bộ FRIEND, công bố trên tạp chí Mayo Clinic Proceedings năm 2015, gom dữ liệu các phòng thí nghiệm trên toàn nước Mỹ. Nhóm người được đo khác nhau nên con số lệch nhau, có chỗ lệch rất xa.

Lấy mốc "xuất sắc" của nam để so:

Tuổi Bảng Cooper Bảng FRIEND
20–29 55,4 66,3
30–39 54,0 59,8
40–49 52,5 55,6
50–59 48,9 50,7
60–69 45,7 43,0
70–79 42,1 39,7

Ở tuổi 20 hai bảng lệch nhau gần 11 đơn vị. Đến tuổi 70 thì bảng FRIEND lại thấp hơn. Lấy một người nam 25 tuổi có chỉ số 56 làm ví dụ: theo bảng Cooper anh ta đã qua mốc "xuất sắc" (55,4), còn theo bảng FRIEND thì anh ta còn cách mốc đó hơn 10 đơn vị. Cùng một con số, hai kết luận.

Nên theo bảng nào? Nếu bạn đang tra con số do đồng hồ Garmin báo, hãy dùng bảng Cooper, vì đó đúng là bảng đồng hồ dùng để gắn nhãn cho bạn. Còn nếu bạn vừa làm xét nghiệm gắng sức ở bệnh viện, hãy hỏi nơi đo họ đối chiếu với bộ chuẩn nào.

Con số trên đồng hồ sai bao nhiêu

Đồng hồ không đo oxy. Nó ước tính, bằng cách ghép tốc độ bạn chạy với nhịp tim ở tốc độ đó rồi suy ngược ra.

Một nghiên cứu kiểm chứng đăng trên JMIR Biomedical Engineering năm 2024 cho Apple Watch Series 7 so với phòng thí nghiệm: 19 người tuổi 18 đến 63, đo bằng máy phân tích khí thở. Phòng lab ra trung bình 45,88 ml/kg/phút, đồng hồ ra 41,37. Đồng hồ thấp hơn khoảng 4,5 đơn vị. Sai số tuyệt đối trung bình 15,79%, và hệ số tin cậy giữa hai phép đo chỉ 0,47, tức là mức kém. Mẫu 19 người là nhỏ, nên hãy đọc con số này như một cảnh báo về độ chính xác, đừng đọc như một hằng số.

Với đồng hồ chạy bộ nói chung, điều quan trọng nhất bạn làm được là nhập đúng nhịp tim tối đa của mình vào máy. Đồng hồ lấy con số đó làm mốc trên cùng để quy ra mọi thứ còn lại, nên nhập sai nhịp tim tối đa là cả kết quả lệch theo. Cách đo nhịp tim tối đa thật nằm ở bài nhịp tim tối đa bao nhiêu là bình thường, còn nếu bạn chưa đo được thì tạm lấy công thức 180 trừ số tuổi theo hướng dẫn trong bài chạy bộ nhịp tim thấp.

Ba thứ hay làm con số nhảy mà không liên quan gì tới thể lực: trời nắng nóng, đêm trước ngủ ít, và cổ tay đeo đồng hồ lỏng khiến cảm biến quang học đọc sai nhịp tim. Thấy VO2 Max tụt một đơn vị sau một buổi chạy nóng, bạn chưa mất gì cả.

Cách tự đo VO2 Max khi không có đồng hồ

Cách chính xác nhất là đeo mặt nạ khí, chạy trên máy ở phòng thí nghiệm thể thao cho tới lúc không gắng được nữa. Ở Việt Nam dịch vụ này hiếm và đắt.

Cách thay thế đã dùng hơn nửa thế kỷ là bài kiểm tra 12 phút của bác sĩ Kenneth Cooper, công bố trên tạp chí JAMA năm 1968. Cách làm: khởi động kỹ, rồi chạy hết sức trong đúng 12 phút trên đường bằng, đo xem bạn đi được bao nhiêu mét. Sau đó áp công thức:

VO2 Max ước tính = 22,351 nhân số ki-lô-mét chạy được, trừ đi 11,288.

Chạy được 2,2 km trong 12 phút thì ra khoảng 38. Chạy 2,6 km thì ra khoảng 47. Bài kiểm tra này tương quan 0,90 với kết quả phòng thí nghiệm, nhưng kết quả phụ thuộc vào việc bạn chia sức có đều không, trời có nóng không, mặt đường có tốt không. Chênh 5 đến 10% là bình thường.

Một lời nhắc từ phía người hướng dẫn: bài 12 phút là bài chạy hết sức. Nếu bạn mới chạy dưới ba tháng, hoặc có vấn đề tim mạch, huyết áp, hãy bỏ qua bài này và dùng cách đổi từ thành tích thi đấu ở mục ngay dưới.

Đổi thành tích 5 km và 10 km của bạn ra VO2 Max

Đây là cách tôi hay dùng nhất với học viên, vì nó không bắt ai phải chạy thêm bài kiểm tra nào. Nếu bạn đã từng chạy hết sức một cự ly 5 km hoặc 10 km, thành tích đó đã nói lên thể lực tim phổi của bạn rồi.

Phép đổi dựa trên công thức của Jack Daniels và Jimmy Gilbert, cùng công thức chạy trong công cụ tính pace trên trang này. Pace là thời gian chạy hết một ki-lô-mét.

Thành tích 5 km:

Thời gian VO2 Max Pace
40:00 22 8:00/km
35:00 26 7:00/km
32:00 29 6:24/km
30:00 31 6:00/km
28:00 33 5:36/km
26:00 37 5:12/km
24:00 40 4:48/km
22:00 45 4:24/km
20:00 50 4:00/km

Thành tích 10 km:

Thời gian VO2 Max Pace
80:00 23 8:00/km
75:00 25 7:30/km
70:00 27 7:00/km
65:00 29 6:30/km
60:00 32 6:00/km
55:00 36 5:30/km
50:00 40 5:00/km
45:00 45 4:30/km
42:00 49 4:12/km

Lấy con số này đối chiếu ngược lên bảng theo tuổi ở phần trên là bạn có câu trả lời đầy đủ. Ví dụ một người nam 45 tuổi chạy 10 km hết 55 phút ra khoảng 36. Nhóm tuổi 40–49 cần 42,4 mới đạt mức "tốt", và 38,5 là ngưỡng cần để ý, nên 36 nằm dưới cả hai. Đó là điểm xuất phát rất bình thường của người chạy phong trào. Chạy 10 km xuống còn 50 phút là con số lên 40, tức đã qua ngưỡng để ý. Xuống 45 phút là 45, đã qua mức "tốt" và chỉ còn cách mức "rất tốt" (46,4) hơn một đơn vị.

Hai bảng trên chỉ đúng khi đó là thành tích bạn chạy hết sức. Thời gian của một buổi chạy nhẹ đổi ra sẽ cho con số thấp hơn thực tế nhiều.

Chỉ số VO2 Max cao có chắc chạy nhanh không

Không chắc. Chỉ số cao cho biết tim phổi bạn khoẻ, nó chưa cho biết bạn về đích sớm hay muộn.

Quay lại hình ảnh chiếc xe. Bạn có xe phân khối lớn, nhưng tay lái kém, hộp số rỉ sét và bình xăng rò. Người đi xe nhỏ hơn mà bảo dưỡng tốt vẫn về trước bạn.

Với cự ly dài, thứ quyết định thành tích là ngưỡng lactate, tức tốc độ cao nhất bạn giữ được mà cơ thể vẫn kịp xử lý lượng a-xít sinh ra. Tôi đã gặp những người có chỉ số 55, thậm chí chạm 60, nhưng chạy marathon lại về sau người có chỉ số 50.

Lý do nằm ở chỗ: chạy đường dài, bạn gần như không bao giờ chạm ngưỡng tối đa. Bạn chạy ở mức dưới tối đa suốt vài tiếng đồng hồ. Ở vùng đó, khả năng xử lý lactate và ion hydro mới là thứ quyết định, không phải dung tích động cơ.

Nói cách khác, VO2 Max cho bạn biết trần của mình ở đâu. Nó không cho biết bạn đang khai thác được bao nhiêu phần của cái trần đó.

VO2 Max tụt theo tuổi nhanh đến mức nào

Nhiều tài liệu phổ thông viết rằng sau tuổi 25, VO2 Max giảm đều 1% mỗi năm. Con số đó tiện để nhớ nhưng không khớp với dữ liệu theo dõi dài hạn, và nó làm nhiều người ở tuổi 40 lo xa hơn mức cần thiết.

Nghiên cứu trên tạp chí Circulation năm 2005 của nhóm Fleg và cộng sự theo dõi 435 nam và 375 nữ tuổi 21 đến 87, thuộc chương trình nghiên cứu lão hoá Baltimore, trung vị theo dõi 7,9 năm, tất cả đều không có bệnh tim trên lâm sàng. Kết quả: tốc độ tụt không đều chút nào. Ở tuổi 20 và 30, mức giảm chỉ 3 đến 6% mỗi mười năm. Đến tuổi 70 trở lên, mức giảm vượt 20% mỗi mười năm. Từ tuổi 40 trở đi, nam tụt nhanh hơn nữ ở mọi thập kỷ.

Đọc theo hướng có lợi cho bạn: quãng 30 đến 50 tuổi, thứ bạn mất vì tuổi tác ít hơn nhiều so với thứ bạn mất vì ngồi yên. Đó là quãng mà tập luyện bù lại được gần hết, và cũng là quãng phần lớn người tìm đến chạy bộ.

Ba cách nâng VO2 Max

Muốn tăng dung tích động cơ, cắm đầu chạy nhanh mỗi ngày không phải cách. Dưới đây là ba hướng tôi thường dùng với học viên.

Cách 1: giảm cân

Nhớ lại đơn vị ml/kg/phút. Cân nặng nằm ở mẫu số. Giảm cân thì con số tự tăng, dù tim phổi chưa khoẻ lên chút nào.

Một người 80 kg có chỉ số 40 ml/kg/phút đang dùng 3.200 ml oxy mỗi phút. Vẫn lượng oxy đó, nếu còn 74 kg thì chỉ số thành 43. Chưa tập thêm buổi nào.

Bí quyết cải thiện VO2 Max là giảm cân

Phần thưởng thật không nằm ở con số trên đồng hồ. Nhẹ hơn 6 kg nghĩa là mỗi bước chân, gối bạn chịu ít tải hơn. Đó mới là thứ bạn cảm nhận được ở ki-lô-mét thứ tám.

Cách 2: chạy nhẹ

Nghe vô lý: muốn nâng chỉ số tối đa mà lại tập chậm. Nhưng những buổi chạy ở nhịp tim thấp mới là thứ xây hệ mao mạch và ty thể, tức đường ống dẫn oxy và cái lò đốt oxy trong cơ. Động cơ to mà đường ống nhỏ thì oxy không tới được nơi cần.

Nguyên tắc thực hành: dành khoảng 80% thời gian tập cho các bài chạy nhẹ, giữ nhịp tim trong khoảng 65 đến 78% nhịp tim tối đa. Cách chọn vùng nhịp tim cụ thể có trong bài nhịp tim mục tiêu khi chạy bộ.

Chạy nhẹ mà vẫn đau gối hoặc đau ống đồng thì hai thứ đáng xem lại trước tiên là cách tiếp đất và tốc độ tăng quãng đường của mấy tuần vừa rồi. Đau kéo dài qua nhiều buổi thì đi khám trước đã. Còn phần kỹ thuật chạy để gối chịu tải ít hơn, tôi để trong khoá Gối Khoẻ Từ Gốc.

Cách 3: bài biến tốc 3 đến 5 phút

Theo tiến sĩ Jack Daniels, các tổ chạy nhanh kéo dài 3 đến 5 phút là bài hiệu quả nhất để nâng VO2 Max, vì chỉ ở độ dài đó tim mới kịp lên tới ngưỡng tối đa và ở lại đó đủ lâu. Tổ ngắn dưới 2 phút thì tim chưa kịp lên. Tổ dài quá 5 phút thì bạn kiệt sức và không giữ nổi tốc độ cho các tổ sau.

Bài mẫu: chạy nhanh 3 phút tới mức thở dốc, đi bộ phục hồi 3 phút, lặp lại 4 đến 5 lần. Mỗi tuần một buổi là đủ, và chỉ nên thêm bài này khi bạn đã chạy liên tục được 30 phút không phải dừng. Cách tập chi tiết nằm ở bài chạy biến tốc là gì.

Cách cải thiện VO2 Max hiệu quả là chạy Interval 3–5 phút

Nếu bạn mới chạy và chưa đi hết 5 km liền mạch, hãy bỏ qua cả ba cách trên và xây nền tảng trước. Tôi có một giáo án miễn phí cho việc đó: giáo án chạy bộ cho người mới.

VO2 Max nói gì về tuổi thọ

Đây là phần khiến chỉ số này được giới y khoa quan tâm nhiều hơn là giới thi đấu.

Nghiên cứu lớn nhất tới nay về chủ đề này đăng trên JAMA Network Open năm 2018, theo dõi 122.007 người làm nghiệm pháp gắng sức trên máy chạy tại Cleveland Clinic từ 1991 đến 2014, ghi nhận 13.637 ca tử vong trong 1,1 triệu người-năm. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác, nguy cơ tử vong của nhóm thể lực cao nhất chỉ bằng khoảng một phần năm nhóm thấp nhất (tỷ số nguy cơ 0,20, khoảng tin cậy 95% từ 0,16 đến 0,24).

Điểm đáng nhớ hơn: nhóm nghiên cứu không tìm thấy ngưỡng trần. Ngay cả khi so nhóm thể lực cao nhất với nhóm đã ở mức cao, lợi ích vẫn còn. Nói cách khác, chưa thấy mức nào mà khoẻ thêm lại hết tác dụng.

Đây là nghiên cứu quan sát trên người đi làm nghiệm pháp gắng sức tại bệnh viện, nên nó cho thấy mối liên hệ chứ không chứng minh quan hệ nhân quả, và nhóm người được đo không đại diện cho dân số chung.

Khi nào nên đi khám thay vì chạy tiếp

Có những dấu hiệu mà không bảng tra nào trả lời thay bác sĩ được. Hãy dừng chạy và đi khám nếu bạn gặp một trong số này:

  • Đau hoặc tức ngực khi gắng sức, nhất là khi lan lên hàm, cổ hoặc cánh tay trái
  • Khó thở nhiều hơn hẳn mức bình thường ở cùng tốc độ, kéo dài qua nhiều buổi
  • Chóng mặt, xây xẩm hoặc ngất khi đang chạy
  • Tim đập loạn nhịp, hẫng nhịp lúc nghỉ
  • Chỉ số VO2 Max tụt mạnh và kéo dài nhiều tuần trong khi bạn vẫn tập đều và ngủ đủ

Tôi là huấn luyện viên chạy bộ, không phải bác sĩ. Những gì bạn đọc ở đây là kiến thức tập luyện. Nếu bác sĩ đã có chỉ định riêng cho bạn, chỉ định đó đi trước bài viết này.

Cách dùng con số này cho đỡ mệt đầu

VO2 Max là chỉ số tốt để nhìn xu hướng theo quý. Nó là chỉ số tệ để soi theo ngày.

Ba việc nên làm:

  • Ghi lại con số vào đầu mỗi quý, so với chính mình ba tháng trước, đừng so với người khác
  • Khi con số nhảy sau một buổi chạy, kiểm tra trước xem hôm đó trời nóng không, bạn ngủ bao nhiêu, đồng hồ có đeo chặt không
  • Cạnh con số, ghi thêm một dòng về cảm giác: leo bốn tầng cầu thang có hụt hơi không, 5 km tháng này có nhẹ hơn tháng trước không

Dòng cảm giác đó mới là thứ bạn sống cùng. Con số chỉ để xác nhận điều bạn đã cảm thấy.

Nếu muốn theo dõi trạng thái hồi phục sát hơn, biến thiên nhịp tim HRV phản ứng nhanh hơn VO2 Max nhiều và hợp để nhìn theo tuần.

Câu hỏi thường gặp

VO2 Max của người bình thường là bao nhiêu? Người ít vận động thường nằm trong khoảng 30 đến 40. Cụ thể hơn thì tuỳ tuổi và giới: nam 40–49 tuổi ở mức trung bình của lứa tuổi mình là quanh 38,5 đến 42,4; nữ cùng nhóm tuổi là quanh 33,0 đến 36,3.

Tăng VO2 Max mất bao lâu? Hệ tim phổi đáp ứng nhanh hơn hệ cơ xương khớp. Thay đổi về khả năng vận chuyển oxy thường thấy sau 2 đến 6 tuần tập đều. Nhưng gân và xương cần 3 đến 6 tháng mới theo kịp, nên tốc độ tăng tải phải lấy theo nhóm chậm nhất, không lấy theo nhịp tim phổi.

Chỉ số 44 ml/kg/phút là tốt hay kém? Tuỳ bạn bao nhiêu tuổi. Với nam 50–59 tuổi, 44 vượt mức "rất tốt" (43,4). Với nam 20–29 tuổi, 44 chưa tới mức "tốt" (45,4). Với nữ ở bất kỳ nhóm tuổi nào, 44 đều từ mức "rất tốt" trở lên.

Đồng hồ không hiện VO2 Max thì sao? Phần lớn đồng hồ cần vài buổi chạy ngoài trời có tín hiệu GPS ổn định và có đo nhịp tim mới tính được. Chạy trên máy trong nhà thường không tính. Nếu đã chạy đủ mà vẫn không hiện, hãy kiểm tra xem bạn đã nhập tuổi, giới tính, cân nặng và nhịp tim tối đa vào đồng hồ chưa.

Không có đồng hồ thì biết chỉ số của mình bằng cách nào? Dùng thành tích 5 km hoặc 10 km gần nhất của bạn, tra ở hai bảng đổi phía trên. Nếu chưa từng chạy hết sức cự ly nào, làm bài 12 phút của Cooper.

Nguồn tham khảo

  • Bảng chuẩn theo tuổi và giới: The Cooper Institute, in lại trong sách hướng dẫn sử dụng Garmin và trong sách hướng dẫn của Hội Y học Thể thao Hoa Kỳ. Thông tin về tổ chức: cooperinstitute.org
  • Bộ chuẩn FRIEND: Kaminsky LA và cộng sự, Mayo Clinic Proceedings 2015;90(11):1515-1523. Toàn văn
  • Tốc độ suy giảm theo tuổi: Fleg JL và cộng sự, "Accelerated longitudinal decline of aerobic capacity in healthy older adults", Circulation 2005;112(5):674-682
  • Thể lực và tử vong: Mandsager K và cộng sự, JAMA Network Open 2018;1(6):e183605. Toàn văn
  • Độ chính xác đồng hồ thông minh: Caserman P và cộng sự, JMIR Biomedical Engineering 2024;9:e59459. Toàn văn
  • Bài kiểm tra 12 phút: Cooper KH, "A means of assessing maximal oxygen uptake", JAMA 1968;203:201-204
  • Phép đổi thành tích ra VO2 Max: công thức Daniels và Gilbert, cùng công thức dùng trong công cụ tính pace

Muốn áp những thứ trên vào buổi chạy của mình một cách có hệ thống, hãy bắt đầu với Khoá Chạy Bộ Đúng Cách. Tám phần, từ dáng chạy tới vùng nhịp tim tới cách tăng tải, để mỗi tuần bạn chạy xa thêm được một chút mà cơ thể vẫn theo kịp.

Muốn tôi theo sát từng tuần tập và chỉnh giáo án theo con số thật của bạn, xem Coaching Chạy Bộ 1:1.

Tags: #khoa-hoc #vo2max

Khoá Chạy Bộ Đúng Cách

Xem chi tiết →

📚 Bài liên quan

← Quay lại danh mục Khoa học chạy bộ
Chia sẻ Chia sẻ